Cha tôi là một người đ
Cha tôi là một người cha tốt, một người chồng rộng rãi giỏi lo. Hiếm khi tôi nghe cha mẹ tôi cãi nhau. Mẹ tôi nhường chồng, có lẽ vì ảnh hưởng giáo dục gia đình, và phong tục tập quán. Cha tôi chiều vợ, có lẽ vì là người rộng rãi tình cảm, và không câu nệ vai trò phái tính trong gia đình. Riêng về phương diện phân biệt nam nữ thì cha tôi có phần cấp tiến hơn phần lớn những người đ
Khi chúng tôi đến tuổi vị thành niên, cả cha lẫn mẹ tôi đều không ngăn cấm việc ăn mặc thời thượng nhưng tôi không theo dõi thời trang như phần lớn đám con gái cùng lớp. Điều này do ở nơi mẹ tôi là người không chú trọng đến bề ngoài nên không biết gì hết về thời trang ăn mặc. Bà chỉ có một áo vét sọc ca rô đen đỏ trắng, trộm kiểu Chanel, là chiếc áo đỏm dáng nhất bà thường mặc khi buộc phải đi ăn cưới đâu đó với cha tôi. Tất nhiên mẹ tôi không hề biết nó là trộm kiểu Chanel. Bà chỉ biết nó bán rẻ ở phố Tàu và tiện lúc đang cần một cái áo mặc ngoài, thế thôi. Và tất nhiên mẹ tôi cũng chẳng để ý đến chuyện màu sắc sặc sỡ của áo tương phản quá sức với cặp kính cận dầy trễ nơi sống mũi, và với tất cả những gì hiền lành yên lặng nơi bà. Tuy vậy, điều này không có nghĩa bà
Nơi lứa tuổi thiếu niên nhốn nháo thời trung học, tôi không hề có ý muốn nổi bật như một con mọt sách kỳ quái thông minh, và cũng không thích phổ thông bừa bãi với nhiều tai tiếng. Như cha tôi, cả hai anh em đồng lọt trũng trong khối đông trung bình. Khi tôi muốn có cái váy đầu tiên trong đời, năm mười hai tuổi, cha tôi chứ không phải mẹ tôi, đưa đi mua. Tất nhiên ông không biết gì hết về những tiệm quần áo thời trang. Tuy rằng tôi là người muốn mua nhưng khi bước vào khu buôn bán đầy dẫy đủ mọi thứ tiệm, tôi cũng không khá hơn cha tôi chút nào trên phương diện mua sắm. Thế nên, cái váy đầu tiên của tôi là một thất bại chán chường.
Tôi cho rằng gia đình tôi may mắn nên tuổi thơ của chúng tôi vui vẻ bình thường như mọi gia đình trung bình khác. Mỗi năm đến hè, chúng tôi đều được đi xa hoặc tham dự những trại hè hướng đạo. Đấy là chưa kể thường xuyên trong năm, tuỳ mùa tuỳ dịp lễ, khi thì lên núi trượt tuyết, lúc thì chèo chuyền cắm trại. Là một người làm việc gì cũng rất cần mẫn, cha tôi ngoài thì giờ làm việc, vẫn cố dành một ít thì giờ để chia sẻ nhiều hoạt động sau giờ học với chúng tôi. Tôi còn nhớ rất rõ có lần ông đã bỏ ra gần sáu tháng cùng học dương cầm với chúng tôi để khuyến khích.
Sau khi mẹ tôi mất được vài năm, cha tôi về hưu. Ông sống một mình cho đến lúc sức khoẻ suy giảm khá nhiều mới về ở với vợ chồng anh tôi. Thỉnh thoảng tôi đến thăm ông, những sáng chủ nhật hay những chiều thứ sáu, hoặc khi anh chị tôi đi chơi tối cần người giữ trẻ. Và trong một lần đến nhà anh giữ cháu trông cha, tình cờ tôi thấy được một khía cạnh khác nơi ông.
Cha tôi từ tốn để úp tấm ảnh nơi tay xuống bàn khi tôi mời ông ra ăn tối. Có lẽ ông quên cửa phòng mình đang mở và tôi ló đầu vào hơi đột ngột dù
"Ba nhớ mẹ quá lại đem hình ra xem đấy à?"
Không trả lời, cha tôi nhẹ nhàng mở ngăn tủ để hình vào rồi khoá lại. Sự im lặng bất chợt của ông bỗng dấy trong tôi một áy náy sượng sùng, sực nhận ra câu đ
Cha tôi là người không có bí mật, không giữ điều gì bí mật. Ít ra, đó là ấn tượng tôi vẫn có về ông cho đến lúc đó, lúc ông im lặng từ tốn khoá trái ngăn tủ bàn viết. Từ lúc tôi có hiểu biết, nhận ra và nhớ được mọi chuyện quanh mình, chưa bao giờ tôi thấy ông khoá tủ bàn viết của mình. Bàn viết của cha tôi là một chỗ không cần lời dặn hay bảng cấm vẫn không ai bén mảng nói gì đến lục lọi tìm kiếm. Lâu ngày, dường như nó biến thành một nơi bất khả xâm phạm rất tự nhiên đối với chúng tôi. Chưa bao giờ tôi có ý muốn thúc đẩy tò mò nhìn qua giấy tờ hay mọi thứ nơi bàn làm việc riêng của ông. Nhưng, sau biến cố tình cờ thấy ông khoá tủ, nó hết còn tự nhiên và biến thành một thứ lập luận mà tôi chưa bao giờ đối diện để tranh cãi. Chưa nhìn thấy cha tôi khoá ngăn tủ bao giờ, không đủ để khẳng định rằng cha tôi chưa bao giờ khoá ngăn tủ ấy. Tất cả chỉ là lập luận một cách tự nhiên vì không ai thắc mắc một việc đã thành nếp theo thời gian trong gia đình.
Từ lúc đó trở đi, thể như tôi mới thật sự nhìn thấy cha tôi lần đầu trong đời. Hay đúng hơn, lần đầu sau bao nhiêu năm tôi đã xem sự có mặt của ông trong đời sống của mình là một điều bình thường đến độ không mấy quan tâm. Kể cả hình dáng bên ngoài, tôi cũng đã không mấy chú ý. Tựa như, mọi thứ đã có thứ tự chỗ đứng của nó và chúng tự lo lấy thân, tôi không phải bận tâm, không cả thắc mắc, không cả liếc nhìn.
Tóc cha tôi thưa sớm nơi chóp đầu ở tuổi bốn mươi, khi ấy tôi mới mười hai, nhưng điều lạ là chỗ tóc thưa ấy không hề lan rộng về phía trán. Tôi vẫn nhớ mỗi lần bà tôi đến thăm đều mang cho ông những gói thuốc cây cỏ khô quắn. Mẹ tôi sắc thuốc đặc quánh để nguội cho vào hũ đậy kín cho cha tôi xức lên da đầu mỗi ngày, nhưng cha tôi khi nhớ khi quên, và mẹ tôi rất đơn giản, chỉ làm theo lời mẹ chồng. Tôi không rõ có phải vì bà tôi không biết bày tỏ nỗi niềm thương mến đứa con trai duy nhất của mình bằng cách nào khác hơn, nhất là khi cha tôi đã có đủ thứ, kể cả hạnh phúc gia đình. Cha tôi không phải là một người đ
Vóc người gầy ốm xương xẩu, có một lúc cha tôi đẫy người đôi chút rồi trở lại gầy gò khô cằn. Thừa hưởng chiều cao của cha, lại giống mẹ ở chỗ tròn trĩnh nên hai anh em tôi to người lớn lứa. Cha tôi có chiều cao hơn trung bình, năm bộ mười. Ông không cho mình là cao so với những người đ
Cha tôi có dáng xấu khi ngồi ăn. Ôâng cúi khom người, hai cùi chỏ dựa trên mặt bàn, mỗi lần đưa thức ăn vào miệng, đầu ông gần như cúi gằm xuống dĩa chén thức ăn. Hình như đó là
Cha tôi ăn nhanh, có vẻ thích thú trong lúc ăn, chú ý đến món đang ăn, thận trọng vén khéo từng hạt cơm. Trong lúc ăn, ông ít nói chuyện. Tôi ăn chậm theo dõi ông nhưng cha tôi ít khi nào nhìn lên, đầy gằm xuống gần như gục hẳn vào chén đang cầm nơi tay. Ăn xong, ông cẩn thận sắp xếp chén đũa dễ dàng cho việc dọn dẹp rồi rời bàn ăn, cầm theo cây tăm ra vườn sau mang theo tách trà nóng. Sau đó có một lúc lâu tôi vừa dọn dẹp nhà bếp vừa theo dõi cha tôi ngồi trong im lặng nơi vườn sau. Ông ngồi rất im, không rõ mắt nhìn nơi nào nhưng đầu hơi cúi, thỉnh thoảng chúm miệng thổi nhẹ rồi hớp một ngụm trà. Có lúc ông thở khì sau khi nuốt ngụm trà, hai vai hơi nhô lên rồi hạ thấp xuống như vừa trút được một điều gì nặng nề. Tôi tưởng như mình có thể nghe được tiếng thở dài ấy từ nơi đứng, sau cửa sổ nhà bếp.
Tôi mở truyền hình cho cháu xem rồi ra ngồi cạnh cha tôi. Mọi khi tôi là người nói nhiều, không hiểu sao lúc ấy miệng lại khô cứng và
Nhưng rồi, tôi lại là người quên bẵng đi việc bắt gặp ông cất hình vào ngăn tủ vài tuần sau đó. Không dễ gì đánh tan ấn tượng bằng phẳng không lồi lõm của một người cha quen thuộc đến độ trong suốt nơi trí tưởng. Trong suốt đến nỗi những khi hồi tưởng, tôi thật sự không làm sao hình dung được cá tính nào nổi bật nhất của ông. Những lần tôi đến nhà sau đó, cha tôi vui vẻ bình thường. Tôi ít thấy ông ngồi một mình nơi bàn trong phòng riêng mà hay ra sau vườn. Có lẽ vì đã vào hè, khi oi bức ông nằm võng sân sau đọc sách nhưng sẵn sàng nhường cho cháu khi lũ con nít bắt đầu chán những trò chơi khác muốn chồng chất hai ba đứa lên võng lộn mèo lăn nhào trên cỏ. Tôi không muốn cha tôi nằm chiếc võng căng cứng dễ lập úp vì sợ ông té. Để trấn an tôi, ông thường nằm với một chân thòng chấm đất.
Có lẽ, sự lặp đi lặp lại của đời sống qui cũ khiến tôi dễ dàng nhanh chóng quên chuyện cất ảnh một cách không ngờ.
Tôi hoàn toàn quên hẳn chuyện tấm hình cho đến một dịp khác. Cuộc ăn uống vui vẻ nơi sân sau, ngày lễ cuối cùng đánh dấu mùa hè chấm dứt trước khi lũ con nít nhập học niên khoá mới. Lấy ra hai chai bia vùi sâu trong thùng nước đá, anh tôi đưa một cho Ben rồi hỏi.
“Chọn nghề cứu hoả hả? Hừm, sao lại là cứu hoả?”
“Sao không?”
“Nguy hiểm!”
“Đó cũng là một lý do”
“Lý do đó có vẻ dữ dằn”
Anh tôi cười sau câu nói.
“Tôi thích thử thách khó khăn”
Tôi cụng chai bia nơi tay Ben, đ
“Thử thách khó khăn? Cứ lái xe trên xa lộ giờ cao điểm là có ngay thử thách. Bảo đảm tăng áp huyết”.
Ben cười. Tôi đ
“Có lẽ Ben thích làm người hùng”.
Ben vội lắc đầu.
“Không. Không. Đây là một nghề nguy hiểm. Và nó đòi hỏi sự chú ý thận trọng cũng như lương tâm nghề nghiệp rất cao”.
Tôi cười vỗ nhẹ vai Ben.
“Em chỉ đ
“Anh biết”.
Miệng Ben nói thế nhưng nhìn mắt Ben, tôi hiểu mình đã lỡ lời nên lặp lại lần nữa.
“Xin lỗi. Lỡ lời”.
Ben lắc đầu.
“Chẳng làm sao cả. Quên đi”.
Anh tôi không rõ chuyện gì bỗng dưng cả hai cùng nhỏ giọng thì thầm. Anh nhìn tôi cười mỉm rồi nói tiếp với Ben.
“Điều kiện sức khoẻ thì sao?”.
“Tương đối khá cao...”.
Tôi đưa chai bia lên mồm hớp một ngụm. Bia lạnh đến độ đầu tôi choáng rộn nhưng vẫn tiếp tục hớp thêm ngụm nữa. Giữa hai ngụm bia, bất chợt mắt tôi nhìn qua cửa sổ phòng cha tôi.
Ông ngồi lưng thẳng, như một que củi khô cứng ngắc, một tay đưa xa, hình như cùi chỏ tựa cạnh bàn. Cuối cánh tay ấy, giữa những ngón khô đét, tuy không thấy rõ, tôi bỗng đoan chắc là một tấm hình. Cha tôi ngồi bất động, rất lâu. Không rõ ông có chớp mắt. Không rõ ông có thở. Tôi lạc mất câu chuyện giữa anh tôi với Ben, và ngụm bia được nuốt xuống một cách bực dọc miễn cưỡng.
Lúc chúng tôi còn bé, cha tôi bày tỏ tình cảm bằng những cái hôn, bẹo má, xoa trán, vuốt tóc. Tôi biết cha tôi không phải là một người khô khan không biết tỏ bày tình cảm với con cái hay không biết hưởng thụ hạnh phúc gia đình. Tôi nghĩ rằng ông có hạnh phúc, vẫn hạnh phúc với gia đình, và có nhận thức chắc chắn. Tôi nghĩ cha tôi là một người cha chu đáo thương con yêu vợ như một số bình thường ngoài kia. Tôi đã không lầm về hình ảnh một người cha một người chồng hoàn hảo nơi cha tôi, nhưng hình như tôi đã lầm về hình ảnh một người đ
Mẹ tôi không phải là một người đ
Ý tưởng của một đứa con gái về cha mình, rất thiên vị. Tôi đã tự động cho rằng cha tôi không có tình cảm riêng tư cuả một người đ
Ben đứng sát vai tôi, nhìn theo hướng tôi nhìn, hỏi.
“Nhìn gì vậy?”.
Tôi hơi giật mình.
“Không. Không có gì”.
“Thấy nhìn chăm chú...”.
Tôi day sang Ben.
“Không có gì”.
Sực nhận ra giọng mình hơi xẵng, tôi dịu xuống rồi nói thật. Gần như thật.
“Không biết ông già làm gì trong phòng một mình?”.
Anh tôi thoáng nhìn về phía cửa sổ, trả lời.
“Hồi nãy ba than nắng nhức đầu”.
Tôi à một tiếng rồi nhìn đi nơi khác. Anh tôi thản nhiên tiếp.
“Mấy hôm nay ông già than mệt, chắc phải đi khám tổng quát xem sao”.
Khi tôi nhìn lên cửa sổ phòng cha tôi lần nữa, ông vẫn ngồi yên nơi vị trí cũ, và lần này thì tôi chắc chắn, một cách giận dữ buộc tội, ông đang nhìn một tấm ảnh mà tôi chưa bao giờ nhìn thấy.
Lúc tôi còn nhỏ, thỉnh thoảng khi có việc cần phải vào sở cuối tuần, cha tôi có lúc cho đi theo. Thường thì ông bật máy vi tính tìm trò chơi trên mạng cho tôi rồi đi làm việc của mình. Và nếu tôi nhớ không lầm, tấm ảnh hai anh em tôi đứng ở một bãi biển nào đó là tấm ảnh duy nhất đặt nơi bàn làm việc của ông. Về sau cha tôi để nó trên bàn ngủ cạnh giường. Tuy ông chụp chúng tôi nhiều hình nhưng có lẽ đấy là tấm ảnh cha tôi thích nhất. Tôi bỗng nhớ lại lúc giúp ông dọn đồ từ một thùng nhỏ chứa những món lặt vặt cá nhân ở văn phòng làm việc khi về hưu ông mang về nhà. Đến lúc tôi lôi mớ giấy gần đáy thùng ra định lật giở từng tờ thì cha tôi nhẹ nhàng bảo để đó cho ông. Chỉ có thế. Ông rất nhẹ nhàng từ tốn nhưng bây giờ nhớ lại, tôi đâm ra ngờ vực, biết đâu, trong đó còn lẫn nhiều thứ mà cha tôi khoá kín nơi ngăn kéo, bây giờ.
Những ngày sau mỗi khi có chuyện đến nhà anh, tôi im lìm quan sát cha tôi, gần như tò mò soi mói. Ông càng lúc càng ít ra khỏi phòng. Nhưng, cửa phòng ông chỉ khép hờ, và nếu như ông có ngồi nơi bàn viết, tôi không hề thấy ông xem hình. Tựa như lần vô tình tôi bắt gặp và lần nhìn thấy qua cửa sổ, đã là quá mức. Tất nhiên là tôi bức rứt khó chịu. Việc gì ông phải khoá kín ngăn tủ? Và việc gì ông phải xem hình một cách vụng trộm lén lút?
Đến một hôm khác, sau bữa ăn trưa, cha tôi đột ngột bất tỉnh. Sau nhiều giờ chầu chực chờ đợi ở bệnh viện lo lắng, tôi về nhà, nhưng chưa được lâu thì anh tôi gọi.
“Ông già không sao, nằm lại tối nay để làm thêm mấy thử nghiệm khác về tim. Mày chịu khó ghé ngang nhà lấy mấy món đồ Jenny sắp sẵn mang vào đây”.
Chị dâu tôi không thể bỏ mấy cháu bé ở nhà
“Cô xem lại có khi chị lấy nhầm”.
Tôi soát tới soát lui bao đồ nhỏ. Jenny sực nhớ.
“Cô lên lấy vài tấm ảnh mang vào bày quanh cho ông già
Tôi chần chừ.
“Chỉ có một đ
Nghĩ đến điều tôi không hề, không muốn, nghĩ đến, Jenny lắc đầu.
“Đâu biết được. Có khi vài ngày lại kéo thành vài tuần đấy”.
Nhưng tôi không cãi Jenny vì cha chị vừa mới qua đời không lâu, kinh nghiệm nuôi bệnh người già vẫn còn mới nguyên trong chị với những thay đổi bất ngờ không kịp trở tay. Không muốn Jenny nói thêm, tôi bỏ lên lầu vào phòng ông già.
Không hiểu sao tôi lại nhón lấy tấm hình hai anh em đứng ngoài biển, rồi tần ngần do dự trước những tấm còn lại. Tôi sực nhận ra phòng ngủ cha tôi có lắm hình. Hình chụp chung nhiều người, đủ kiểu, nhiều dịp. Những tấm ảnh này phần lớn chắc phải do Jenny vào khung để trên bàn chứ tôi biết cha tôi chỉ giữ mỗi tấm hình hai anh em đứng ngoài biển và một tấm khác, mẹ tôi ngồi bên ông, cả hai ông bà cứng ngắc bên nhau, một tiệc cưới nào đó.
Đang nhìn loanh quanh lựa chọn, mắt tôi bỗng dừng nơi chiếc khoá chơ vơ ở kệ trên. Mọi ý nghĩ trong tôi khựng lại và hành động chợt bùng lên như thể đó là hành động duy nhất đáng làm và phải làm, ngay lập tức. Tôi cầm chìa lập cập mở ngăn tủ bên dưới, kéo ra. Nằm úp trên mấy cây bút chì, viết máy, kẹp giấy là một tấm hình khổ bốn sáu. Tôi lật ngửa hình mà không cầm lên như sợ để lại dấu vết không ra gì, phần tôi.
Khi tôi trở lại bệnh viện, cha tôi đã được dời ra phòng riêng. Ông có vẻ mệt mỏi im lìm không nói khi tôi bày mấy tấm ảnh lên bàn, chìa cho thấy đôi giép da ông vẫn mang trong nhà, rồi để xuống sàn cạnh giường. Hình như tôi tránh không nhìn thẳng mắt ông, vì mỗi lần nhìn là mỗi lần tôi nhớ đến tấm ảnh trong ngăn kéo. Cha tôi muốn nhìn, vẫn nhìn, người nào trong tấm ảnh ấy?
Về sau những lúc đưa đón cha tôi ra vào bệnh viện, phòng mạch bác sĩ chuyên môn, thường xuyên hơn trước, thay phiên với anh tôi, nụ cười của những người trong ảnh ám ảnh tôi, cũng thường xuyên chẳng kém. Tự tấm hình ấy không có gì khác thường để cha tôi phải giấu diếm.
Ảnh chụp một dịp Giáng sinh vì sau lưng người trong ảnh là cây thông với đ
Đôi khi tôi giả sử, với Ben.
“Ông già yêu một trong bốn người đó”.
Ben chưa bao giờ được nhìn ảnh, chỉ nghe tôi tả nhưng đủ để đ
“Nói vậy thì ai cũng nói được".
Tôi quả quyết.
“Một trong hai người đ
Ben nheo mắt cười cười.
“Vấn đề chủng tộc?”.
Tôi ngượng.
“Linh cảm!”.
“Bắt nguồn từ kỳ thị chủng tộc?”.
“Không. Nhưng có lẽ ông già chuộng Á châu hơn”.
“Lại đoán già
“Người đ
“Gu ông già?”.
Tôi ấm ức vì nhận ra đối với Ben, chuyện tấm ảnh chỉ là một chuyện đ
“Ông già không sinh trưởng xứ này và mang nặng đầu óc Á châu, ưa thích những cái gì Á châu nói chung. Ông thích đ
“Thế thì người đ
Tôi ngắc ngứ chưa trả lời thì Ben đã tiếp.
“Như vậy đưa đến kết luận ông già yêu người đ
“Không thể kết luận dễ dàng thế được”.
“Ủa, chính em vừa giới hạn chỉ một trong hai người đ
Tôi khổ sở.
“Cô ấy quá trẻ”.
“À. Lại thêm vấn đề tuổi tác. Ông già không thích đ
“Ben. Thôi đừng đ
Ben cố nén cười.
“Được rồi, được rồi, chịu thua. Không ai nói xấu ông già cả. Rồi, loại bỏ người đ
Cứ thế. Mỗi lần tôi đem chuyện tấm ảnh ra nói với Ben, cứ thế, đều biến thành một chuyện hài hước cười đ
Giả như có một chuyện tình nào đó xảy ra giữa cha tôi và một trong bốn người đ
“Rõ là
Tôi đồng ý rằng có khi tôi vẽ vời quá đáng nhưng làm sao tôi có thể quên được nét ân cần lúc cầm tấm ảnh trong tay của cha tôi. Một kỷ niệm bình thường không hề khiến một người đ
“Đừng cho ông già
Ben nghĩ vậy. Ben cho rằng vì tôi đặt cha mình lên một bục cao nên tôi muốn trấn an mình rằng cái pho tượng trên bục cao ấy vẫn là người cha hy sinh tất cả mọi thứ cho gia đình, rằng người cha ấy không hề yêu thương ai hết ngoại trừ mẹ tôi ra. Nhưng, nếu gọi là
Đến lúc cha tôi về nhà
Biết đâu, đã có lúc cha tôi muốn được nhìn lại tấm ảnh cất trong ngăn kéo. Biết đâu, một ý muốn ông không thể nói ra. Biết đâu. Biết đâu. Biết đâu đấy.
Tôi loay hoay suy nghĩ chập lâu rồi lại bàn tìm chiếc khoá ở kệ trên. Tôi hồi hộp thỉnh thoảng liếc về phía cha tôi. Tiếng khoá mở nhẹ, tôi kéo ngăn kéo từ tốn. Tấm ảnh vẫn nằm ngửa y nguyên vị trí cũ lần đầu tôi mở trộm ngăn kéo. Điều này chứng tỏ từ lúc bệnh trở nặng, cha tôi không có dịp mở tủ. Tôi cầm ảnh lên nhìn thật gần một lần nữa. Nụ cười tươi của bốn người đ
Tôi lay nhẹ vai cha tôi rồi mang kính cho ông, tay kia tôi giữ tấm ảnh trước mặt. Mắt ông thoáng lướt ngang. Tôi để ý chờ đợi phản ứng. Nét mặt cha tôi im lìm. Không phản ứng. Không cả chớp mắt. Không cả thở mạnh. Cha tôi không nhìn ảnh. Ông nhìn tôi. Cha tôi nhìn tôi. Không nhìn ảnh. Rồi ông từ từ gỡ kính đưa tôi, khép mắt lại .149
No comments:
Post a Comment